Hạt giống cho đơn nữ Úc mở rộng có 32 tay vợt được xếp hạng cao nhất.
Điều này bảo vệ các hạt giống khác khỏi chơi với nhau cho đến giai đoạn sau của giải đấu.
các Jugo Mobile liệt kê các đội nữ được xếp hạt giống và bị loại tại giải đấu đang diễn ra.
Hạt giống, vòng loại Úc mở rộng 2025 nữ
| Gieo hạt | Tên | Quốc gia |
| 1 | Aryna Sabalenka | |
| 2 | Iga Swiatek | POL |
| 3 | Coco Gauff | Hoa Kỳ |
| 4 | hoa nhài paolini | ITA |
| 5 | Tần Văn Chính | CHN |
| 6 | Elena Rybakina | KAZ |
| 7 | Jessica Pegula | Hoa Kỳ |
| 8 | Emma Navarro | Hoa Kỳ |
| 9 | Daria Kasatkina | |
| 10 | Danielle Collins | Hoa Kỳ |
| 11 | Paula Badosa | ESP |
| 12 | Diana Shnaider | |
| 13 | Anna Kalinskaya | |
| 14 | Mirra Andreeva | |
| 15 | Beatriz Haddad Maia | ÁO NGỰC |
| 16 | Jelena Ostapenko | LẠT |
| 17 | Marta Kostyuk | Vương quốc Anh |
| 18 | Donna Vekic | CRO |
| 19 | Chìa khóa Madison | Hoa Kỳ |
| 20 | Karolina Manyova | SÉC |
| 21 | Victoria Azarenka | |
| 22 | Magdalena Frech | POL |
| 23 | Katie Boulter | GBR |
| 24 | Liudmila Samsonova | |
| 25 | Yulia Putintseva | KAZ |
| 26 | Ekaterina Alexandrova | |
| 27 | Anastasia Pavlyuchenkova | |
| 28 | Elina Svitolina | Vương quốc Anh |
| 29 | Linda Noskova | SÉC |
| 30 | Leylah Fernandez | CÓ THỂ |
| 31 | Maria Sakkari | GRE |
| 32 | Dayana Yastremska | Vương quốc Anh |
Hạt giống Úc Mở rộng hoạt động như thế nào?
Cũng giống như ba giải Grand Slam khác, Australian Open sử dụng bảng xếp hạng WTA nữ hiện tại để xác định thứ tự hạt giống nữ – tức là 32 tay vợt.
Ban tổ chức thường lấy bảng xếp hạng WTA từ thứ Hai tuần trước trước khi giải đấu bắt đầu.
Pháp mở rộng và Mỹ mở rộng đã có cùng một hệ thống xếp hạt giống trong thời gian gần đây, nhưng Wimbledon mới chỉ chuyển sang hệ thống này vào năm 2021.
Cho đến giải đấu năm 2021, ban tổ chức Wimbledon đã sử dụng hệ thống dựa trên máy tính dựa trên kết quả sân cỏ để quyết định hạt giống, mang lại lợi thế cho những tay vợt đã tiến xa ở Wimbledon năm trước.
Khi nào giải Úc mở rộng kết thúc?
Lễ bốc thăm chính Australia Mở rộng 2025 bắt đầu vào Chủ Nhật, ngày 12/1.
Trận đấu sẽ kết thúc tại Công viên Melbourne vào Chủ nhật, ngày 26 tháng 1 – ngày diễn ra trận chung kết đơn nam.
